Chỉ Số Huyết Áp

Ý NGHĨA CỦA CHỈ SỐ HUYẾT ÁP

Chỉ số huyết áp được xác định dựa vào hai trị số là tâm thu và tâm trương. Số đứng trướchuyết áp tâm thu. Số đứng sauhuyết áp tâm trương. Mỗi độ tuổi khác nhau thì hai trị số này cũng thay đổi khác nhau.
Theo Hiệp hội tim mạch Mỹ thì huyết áp bình thường, an toàn cho mọi người là ở mức thấp hơn 120/80 mm/hg

CÁC CHỈ SỐ HUYẾT ÁP

Huyết áp tâm thu là áp lực của máu lên động mạch khi tim co bóp. Con số này luôn được quan tâm hơn cả, vì thể hiện được khả năng bơm máu của tim cung cấp đến các cơ quan. Cụ thể, trong mỗi nhịp tim đập, một lượng máu được tống từ tim đi ra khỏi cơ thể, áp lực của lượng máu đó đặt trên thành động mạch gọi là huyết áp tâm thu.

Huyết áp tâm thu phụ thuộc vào sức co bóp của tim và thể tích máu mỗi nhịp bóp. Nếu tim co bóp càng mạnh hoặc lượng máu tống ra càng nhiều thì huyết áp tâm thu sẽ càng cao và ngược lại. Khi đo huyết áp bằng huyết áp kế bằng tay, tiếng tim đập đầu tiên nghe được khi xả bao hơi đánh dấu huyết áp tâm thu.

Huyết áp tâm thu là áp lực của máu lên động mạch khi tim co bóp

Tại thời điểm nghe được tiếng tim đập cuối cùng trước khi không còn nghe được nữa chính là huyết áp tâm trương. Đây là áp lực máu lên thành động mạch khi tim giãn ra và con số này thường ít được chú ý đến, do chỉ phản ánh khả năng đàn hồi của thành mạch mà yếu tố này thì khó có thể thay đổi được.

SỐ NÀO QUAN TRỌNG HƠN

Thông thường, huyết áp tâm thu được coi là yếu tố nguy cơ chính của bệnh tim mạch ở người trên 50 tuổi. Với hầu hết nhiều người, huyết áp tâm thu tăng lên đều đặn do tuổi tác, do tăng độ cứng động mạch lớn, sự phát triển lâu dài của mảng bám và gia tăng tỷ lệ mắc bệnh tim mạch.

Tuy nhiên, huyết áp tâm thu hay huyết áp tâm trương tăng lên đều có thể có nguy cơ bị huyết áp cao. Nhiều người có nguy cơ bị đột quỵ, bệnh về tim do sự tăng cao của huyết áp tâm trương.

CHẨN ĐOÁN CÁC  TÌNH TRẠNG HUYẾT ÁP

HUYẾT ÁP BÌNH THƯỜNG

Ở người lớn, huyết áp tâm thu (tối đa) dưới 120mmHg và huyết áp tâm trương (tối thiểu) dưới 80mmHg.

HUYẾT ÁP CAO

Huyết áp tâm thu từ mức 140 mmHg trở lên hoặc huyết áp tâm trương từ 90 mmHg trở lên được chẩn đoán là cao huyết áp.

TIỀN HUYẾT ÁP

Giá trị nằm ở giữa mức huyết áp bình thường và cao huyết áp được coi là tiền cao huyết áp. Đó là khi huyết áp tâm thu từ mức 120-139 mmHg hay huyết áp tâm trương từ 80-89 mmHg.

HUYẾT ÁP THẤP

Khi huyết áp tâm thu dưới 90 mmHg hoặc giảm 25 mmHg so với bình thường được coi là huyết áp thấp.